Năng lượng không phải là các chất dinh dưỡng cần thiết như các vitamin, vi khoáng nhưng năng lượng là thứ rất cấp thiết trong cơ thể cho quá trình thảo luận chất, cho chức năng sinh lý, hoạt động của cơ, cho quy trình sản xuất nhiệt, quá trình tăng trưởng và tổng hợp của các mô mới. Năng lượng được giải phóng trong quy trình oxy hóa từ các thành phần chất đạm (protein), chất bột (carbohydrate) và chất béo (lipid) của thực phẩm khi được ăn vào.
Đặc biệt tại trẻ em, năng lượng còn được biết đến là điều kiện rất cần cho sự tăng trưởng, gồm có 2 thành phần: 1) năng lượng được dùng để tổng hợp các mô sinh trưởng và 2) năng lượng gửi về các mô, về cơ bản các thành phần này là chất béo và protein, vì hàm lượng carbohydrate tại dạng này là không đáng kể. Vì vậy để đảm bảo nhu cầu năng lượng cho trẻ đặc biệt trẻ càng nhỏ thì yêu cầu tỷ lệ chất đạm (đặc biệt là đạm động vật) và chất béo càng cao trong khẩu phần.
Đơn vị đo năng lượng thường sử dụng tại Việt nam là kilocalorie (kcal), hay calorie (1 kcal = 1.000 cal), được gọi tắt là “calo”; ngoài ra có thể sử dụng đơn vị kilojoule (kJ) hoặc megajoule (1 MJ = 1.000 kJ), 4,18 kilojoules tương đương với một kcal.
Khác với người trưởng thành, dinh dưỡng trẻ em cần có sự cân bằng giữa năng lượng cao và hàm lượng dinh dưỡng cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển. Vì vậy cấp thiết lập 1 chính sách ăn uống lành mạnh với kiểm soát cân nặng, kết hợp với tập thể dục thường xuyên. Sự cân bằng giữa 2 yếu tố này trảo đổi từ hàm lượng chất béo rất cao của giai đoạn sơ sinh tới ít chất béo, nhiều chất xơ của chính sách dinh dưỡng tại tuổi trưởng thành. Chế độ ăn uống cho trẻ em nên tập trung về nguồn thức ăn tươi tự nhiên để mang đến năng lượng và nhiều chất dinh dưỡng cần thiết. Chế độ ăn kiêng hay các loại thực phẩm nhiều gia vị chua cay mặn có khẩu vị mạnh cần tránh cho trẻ dùng. Cần khuyến khích cho trẻ ngay từ giai đoạn đầu một thái độ tích cực và tự nguyện theo một thói quen ăn uống lành mạnh.
Sau đây là chính sách dinh dưỡng phù hợp với các lứa tuổi và đặc điểm phát triển của trẻ:
1. Giai đoạn từ một tới 5 tuổi
Cần cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu. Từ tháng thứ 7 tới 24 tháng vì cơ thể đang phát triển nhanh chóng và do đặc điểm hiếu động và tiêu hao năng lượng nhiều hơn hơn các lứa tuổi khác nên trẻ có đề nghị năng lượng rất cao. Do đó, lứa tuổi này cần được phân phối các loại thực phẩm cao năng lượng (cũng như giàu các vitamin và khoáng chất nữa). Nhưng phải lưu ý rằng, dạ dày của trẻ chưa đủ to để có thể chứa được nhiều thức ăn nên cần cho trẻ ăn ít 1 và nhiều bữa trong ngày.
Trẻ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo nên chuyển đổi từ chế độ ăn uống có năng lượng rất cao của giai đoạn sơ sinh (với khoảng 50 % tổng năng lượng tới từ chất béo) sang chế độ ăn uống cho trẻ năm tuổi, lúc đó hàm lượng chất béo cần phải điều chỉnh thấp đi trong khẩu phần (nhưng vẫn còn khoảng 35 % năng lượng từ chất béo).
Tóm lại giai đoạn dưới 5 tuổi, 1 chính sách ăn uống ít chất béo và nhiều chất xơ sẽ không đem đến đủ năng lượng cho trẻ phát triển khỏe mạnh nên gia đình rất cần lưu ý và khéo léo cho trẻ tiếp cận với chính sách ăn uống lành mạnh là rất cần thiết vì sở thích ăn uống thường được thiết lập từ giai đoạn rất sớm của cuộc đời.
2. Giai đoạn tuổi học đường (từ 6 tuổi trở lên)
Các yêu cầu năng lượng của tuổi học đường vẫn còn cao vì trẻ tiếp diễn phát triển và vẫn có xu hướng ưa hoạt động thể lực. Vì vậy, cần tiếp tục hướng trẻ đến chế độ ăn uống lành mạnh của người trưởng thành, nhưng vẫn cần tập trung về các thực phẩm có năng lượng cao và giàu dinh dưỡng. Sự trảo đổi trong chế độ ăn của trẻ tuổi học đường nên chuyển đổi dần dần với sự gia nâng cao dần chất xơ, giảm dần chất béo và nâng cao chất bột đường. Lưu ý lứa tuổi mới đi học (trẻ từ 4-6 tuổi) sẽ vẫn cần các bữa ăn nhỏ và nhiều bữa hơn trong ngày vì dạ dày trẻ chưa đủ to để ăn được các bữa ăn với số lượng thực phẩm nhiều như người trưởng thành.
Các mức khuyến nghị vào nhu cầu năng lượng cho trẻ em từ khi sinh đến 9 tuổi không phân biệt giới được ghi trong bảng sau:
BS. TS. Trương Hồng Sơn





0 nhận xét:
Đăng nhận xét