Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Bí quyết dưỡng nhan trong mùa hè

1. Mẹo tránh ra mồ hôi

Đổ nhiều mồ hôi khiến cho bạn cảm thấy rất khó chịu, nhất là khiến làn da bóng nhờn, có thể trôi đi lớp trang điểm và trông bạn thật phờ phạc. Một vài mẹo nhỏ sau có thể giúp đẩy lùi sự khó chịu này. Sau khi tắm, bạn có thể bôi dầu dừa vào những chỗ hay ra mồ hôi. Bạn có thể tắm lại sau 1 tiếng. Hoặc bạn có thể hòa muối về nước cốt chanh bôi lên những vùng hay ra mồ hồi sẽ giúp cơ thể bạn thơm tho suốt cả ngày.

Ngoài ra, ăn nho hay uống một cốc nước cà chua hàng ngày cũng giúp làm chậm lại sự hoạt động của tuyến mồ hôi, giúp thanh lọc cơ thể từ bên trong.

2. Thanh lọc cơ thể mùa hè

Vào mùa hè, hoa quả rất đa dạng và đây cũng là nguồn bổ sung vitamin, làm mát cơ thể một cách tuyệt vời cho các bạn gái, giúp bạn vẫn tràn trề năng lượng trong nắng hè. Hãy uống nước chanh hàng ngày để thải độc cơ thể. Ngoài ra, trà xanh (giàu chất chống oxy hóa), dưa hấu (giàu kali) hoặc nước chanh pha với mật ong rất tốt cho cơ thể bạn, giúp bạn khỏe khoắn 1 cách diệu kỳ từ bên trong.

3. Dưỡng da mùa hè

Một số công thức mặt nạ đắp da mặt sau sẽ giúp làn da bạn trắng sáng không tì vết, hồng lên trong nắng

Lô hội kèm nước hoa hồng: chống rám nắng. Bạn hãy bôi hỗn hợp trên lên da mặt và những vùng da dễ bắt nắng khoảng 20 phút rồi rửa lại với nước sạch. Nó sẽ giúp làn da trở thành mềm mại, chống khô ráp.

Sữa lên men: bôi lên da khoảng 20 phút rồi rửa sạch. Nó sẽ giúp trị mụn, giúp da không bị bóng nhờn. Nó còn giúp giảm thâm hiệu quả.

Trắng hồng nhờ cà chua: Cà chua là nguyên liệu rẻ tiền và rất sẵn. Chỉ cần vài lát cà chua thoa đều lên cơ thể, nhất là vùng da mặt, cánh tay và những vùng cơ thể liên tục tiếp xúc với nắng. Vitamin A, vitamin C và các dưỡng chất từ cà chua sẽ làm trắng da một cách hiệu quả.

Nước chanh gặt đi đốm đen: Bôi 1 lớp nước cốt chanh lên da rồi rửa lại sau 15-20 phút. Nó sẽ giúp nỗ lự vùng da bị rám nắng một cách hiệu quả.

LiLy

Cơ thể chán ăn lúc ốm rất có lý

Nhóm nghiên cứu của Đại học Yale do Ruslan Medzhitov - nhà miễn dịch sinh học dẫn đầu đã tuyên bố bố trên tạp chí Cell. Trong đó, Ruslan Medzhitov cùng các cộng sự nhằm mục đích tìm hiểu xem tác động của chính sách nhịn ăn lên hệ thống miễn dịch và quy trình trị bệnh của cơ thể như thế nào. Medzhitov đã thực hiện nhiều thí nghiệm trên những con chuột nhiễm bệnh do 2 loại mầm bệnh là virus và vi khuẩn. Medzhitov cho biết : “Khi động vật mắc bệnh, chúng ngừng ăn và chuyển sang 1 chế độ chuyển hóa trong trạng thái đói”.

Đến đây chúng ta đã hiểu: tại sao khi bị bệnh, cơ thể lại có phản ứng chán ăn tự nhiên? Bởi cơ thể là một cỗ máy sinh học kì diệu, hẳn nó sẽ làm điều đó vì ích lợi sống còn.

“Sốt thì bỏ đói, cảm lạnh thì cho ăn, đã giúp người phương Tây mau khỏi bệnh cảm lạnh

Thức ăn tác động trái chiều với bệnh nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus?

Medzhitov đặt vấn đề: “Câu hỏi đặt ra là liệu sự trao đổi chất diễn ra trong thời gian chúng nhịn đói có tác dụng bảo vệ hoặc gây hại đến cơ thể?”. Nhằm làm rõ điều này, các nhà nghiên cứu đã cho những con chuột bị ốm đang nhịn đói ăn trở lại. Kết quả họ phát hiện ra rằng: những con chuột bị bệnh do nhiễm virus sống sót. Còn những con chuột nhiễm khuẩn lại nhanh nhất chết vì bệnh đang mắc. Nhận định thực đơn trong chế độ ăn và các chất dinh dưỡng bao gồm các loại chất: chất đạm (protein), chất béo ( lipit) và chất đường (glucose). Các nhà khoa học phát hiện : chính chất đường phải chịu trách nhiệm cho kết quả đối lập giữa 2 nhóm chuột bị bệnh do virus và vi khuẩn. Theo đó những con chuột bị bệnh do nhiễm virus được ăn thì nhanh chóng khỏi bệnh. Ngược lại, những con chuột bị bệnh do nhiễm vi khuẩn, được ăn thì dễ bị chết. Để khẳng định vai trò của chất đường, các nhà nghiên cứu lặp lại thí nghiệm. Chỉ khác là: lần này họ kết hợp thêm một số loại hóa chất để ngăn chặn sự chuyển hóa của đường glucose. Kết quả ngay thức thì đảo ngược: những con chuột nhiễm vi khuẩn lại sống sót còn những con chuột nhiễm virus thì “ra đi”.

Theo các nhà nghiên cứu: tác động của yếu tố dinh dưỡng trong các bệnh nhiễm virus và nhiễm khuẩn khác nhau là do sự khác biệt trong phản ứng miễn dịch. Theo đó, bệnh nhiễm vi khuẩn và virus gây ra các loại viêm không như nhau để lại tổn thương trên mô. Cùng một chính sách dinh dưỡng có thể giúp ích cho cơ thể chống lại bệnh này nhưng lại cản trở khả năng chịu đựng viêm nhiễm của cơ thể đối với bệnh kia. Medzhitov nói: “Trong thời gian bị nhiễm virus, chính sách ăn phân phối glucose có thể rất quan trọng cho sự sống còn”. Ngược lại, nhịn ăn dẫn đến quá trình sản sinh xeton, một dạng nhiên liệu, có thể giúp động vật chịu đựng 1 bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn”.

Cũng theo các nhà nghiên cứu: các chính sách ăn uống không giống sẽ có ảnh hưởng khác nhau lên bệnh truyền nhiễm. Kết quả nghiên cứu rất có ý nghĩa với các bác sĩ và người nhà bệnh nhân đang chăm sóc người bệnh, nhất là những ca bệnh nặng phải cách ly trong phòng chăm sóc đặc biệt.

Virus cúm AH5N1 – gây bệnh cảm cúm

Bệnh nào nên ăn và bệnh nào nên nhịn?

Vận dụng kết quả nghiên cứu trên vào thực tế sao cho có lợi? Bằng chứng thuyết phục mà nhóm nghiên cứu đã chỉ ra địa chỉ khoa học cho một câu thành ngữ phương tây: “Sốt thì bỏ đói, cảm lạnh thì cho ăn “ (“Starve a fever, feed a cold”). Điều đó cũng có nghĩa là ở phương Tây, họ đã áp dụng được giống kết quả nghiên cứu này bằng kinh nghiệm dân gian.

Bác sĩ Andrew Wang, tác chất lượng kém chính của nghiên cứu trên phát biểu: “Qua nhiều thiên niên kỷ, toàn bộ các sinh vật đã tiến hóa để hòa hợp với những gì mà tế bào cần”. Những tế bào thì cần các chất dinh dưỡng nhất định để thực hiện chức năng sống. Từ đó chúng ta thấy rằng: khẩu vị hay phản ứng chán ăn lúc ốm hoàn toàn có thể là thứ cơ thể sử dụng, để nhắc nhở chúng ta cách tốt nhất giúp nó nhanh chóng nhất vượt qua bệnh truyền nhiễm.

Còn tại Việt Nam chúng ta thì sao? Từ trước đến nay, chúng ta thường có thói quen đi thăm người ốm bằng “cân đường, hộp sữa” . Khi đến thăm người bệnh, chúng ta cũng thường động viên người bệnh: “ăn nhiều cho chóng khỏe”. Cách làm này của người Việt có vẻ như thiếu khoa học trong thói quen chăm sóc bệnh nhân, hay ít ra nó cũng không phải là đúng cho mọi trường hợp ốm đau.

Dựa về kết luận của Medzhitov: “Trong thời gian bị nhiễm virus, chính sách ăn phân phối glucose có thể rất cần thiết cho sự sống còn. Ngược lại, nhịn ăn dẫn tới quy trình sản sinh xeton, 1 dạng nhiên liệu, có thể giúp động vật chịu đựng 1 bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn”. Chúng ta ứng dụng như sau: khi một người bị cảm cúm, nên nấu cháo hành cho người bệnh ăn. Còn các trường hợp ốm mà có sốt khác, nếu như người bệnh chán ăn thì chúng ta cũng đứng có ép họ ăn. Khẩu phần ăn: nên giảm chất bột đường ( giảm cơm cháo, phở…); tăng cường chất đạm và béo ( nâng cao thịt, cá, trứng, sữa …)

BS. Phạm Văn Thân

(Theo NewsYale)

Những người tham gia nghiên cứu được chia thành 3 nhóm: Nhóm ăn bữa sáng năng lượng cao, gồm 20% hoặc nhiều hơn năng lượng trong ngày. Nhóm ăn bữa sáng dưới 20% năng lượng và nhóm còn lại bỏ hoàn toàn bữa sáng. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng công nghệ siêu âm để quét những người tham gia nghiên cứu để tìm dấu hiệu mỡ lắng đọng trong động mạch, 1 bằng chứng của bệnh tim mạch. Kết quả cho thấy, những người bỏ ăn sáng hoặc ăn sáng nghèo nàn sẽ nâng cao gấp đôi khả năng mắc bệnh xơ vữa động mạch. Những người bỏ bữa sáng cũng có vòng eo lớn, chỉ số trọng lượng cơ thể cao, huyết áp cao, mỡ máu cao và mức đường tăng nhanh. Nguy cơ cao xơ vữa động mạch tại những người bỏ bữa sáng hoặc ăn sáng ít dường như không phụ thuộc về các yếu tố khác như hút thuốc, lượng cholesterol cao và ít hoạt động thể chất.

Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, ăn một bữa sáng đầy đủ có lợi cho sức khỏe, bao gồm cả duy trì cân nặng hợp lý và có nguy cơ thấp trong các khiếu nại như cholesterol, huyết áp và tiểu đường.

Phương Linh

((Theo Journal of the American, 2018))

Sự khác biệt chính giữa các loại thực phẩm thông thường và siêu thực phẩm là nội dung dinh dưỡng của chúng. Siêu thực phẩm chứa một số lượng lớn các vitamin và khoáng chất cũng như chất chống oxy hóa mạnh giúp chống và bộ phận ngừa nhiều mặt bệnh, kể cả bệnh tim và ung thư.

Dưới đây là 1 số siêu thực phẩm có thể giúp bạn cố gắng sức khỏe.

1. Quả Camu (quả mọng)

Camu là loại quả chứa nhiều Vitamin C nhất trong danh sách các siêu thực phẩm và đã được sử dụng rộng rãi trong y học dân gian để ngăn chặn và điều trị cảm lạnh cũng như nhiều bệnh khác. Quả mọng thậm chí còn được dùng trong y học cổ đại như một phương thuốc chống virus, chống trầm cảm, thuốc dưỡng tóc và chống viêm.

8

Quả Camu giúp nâng cao cường hệ miễn dịch vì chúng có chứa nhiều gấp 30-60 lần vitamin C có trong quả cam. Quả Camu cũng có đầy đủ các chất chống oxy hóa mạnh mẽ và flavonoids đem tới vị chua như vậy như một điểm cộng giữa cam và quả việt quất. Quả Camu giúp tăng cường khả năng hấp thụ vitamin B và 1 số axit amin. Bạn có thể thêm bột Camu về đồ uống lạnh, các loại trà thảo dược hoặc sinh tố để thu nạp triệt để các lợi ích dinh dưỡng của nó.

2. Quả Goji


8

Những quả Goji chín mọng nhỏ xinh màu đỏ tươi rất giàu chất dinh dưỡng cấp thiết và các chất chống oxy hóa mạnh mẽ. Hơn nữa, Goji có chứa Vitamin C, 18 axit amin, mang đến 12% nhu cầu sắt hàng ngày của bạn và 5 axit béo thiết yếu. Goji có Xuất xứ từ thực tiễn y học Trung Quốc trong việc nỗ lự lưu lượng máu và tăng yêu thích muốn. Thêm Goji khô vào hỗn hợp đường, ngũ cốc, sinh tố hoặc làm trà Goji là cách bổ sung tuyệt vời cho cơ thể, bats chấp chi phí cao.

3. Bồ công anh


8

Ít ai ngờ rằng bồ công anh là một trong những loại thực phẩm giải độc rất tốt nhất thế giới. Rất dễ trồng và có thể thay thế đám cỏ trong sân. Bồ công anh tươi và khô dung làm thức uống như một loại trà thảo dược là một trong những cách dễ nhất để tiêu thụ loại siêu thực phẩm này. 1 cốc lá bồ công anh có 25 calo, 32% vitamin C và 112% lượng vitamin A nhu cầu cho một ngày.

4. Hạt Chia


8

Những hạt nhỏ li ti nhưng có một năng lượng to lớn chứa đầy chất sắt, chất xơ, axit béo Omega 3, magiê và protein thực vật. Hạt Chia là thực phẩm tuyệt vời dành cho các bài tập thể lực dài. Hạt Chia còn có thể giúp bạn ngăn ngừa chứng đầy hơi. Thêm vài thìa các hạt nhỏ thần kì này về hũ sữa chua, bột yến mạch và bánh tự chế.Tuyệt!

5. Hạt lanh


8

Hạt lanh là 1 trong những nguồn hoàn hảo của chất xơ và các axit béo Omega 3. Hạt lanh cũng chứa phytoestrogen rất tốt cho PMS (hội chứng tiền mãn – Premenstrual Syndrome). Hạt lanh tốt cho việc giảm táo bón và đầy hơi và là 1 thay thế hữu hiệu với người không ăn trứng

6. Củ nghệ


8

Củ nghệ là 1 trong những gia vị tốt nhất giúp ngăn ngừa viêm nhiễm và bệnh tật. Màu cam tươi sáng của nghệ chỉ rõ hàm lượng dinh dưỡng và chất chống oxy hóa của loại siêu thực phẩm này. Nghệ có khả năng tuyệt vời làm dịu hệ thần kinh, các tổn thương da và ngăn chặn PMS. Thậm chí nghệ có khả năng chống lại ung thư nhờ chất curcumin - một hoạt chất khiến chúng có màu cam và hoạt động chống viêm cao trong cơ thể. Dùng nghệ cho món cá hoặc các món trứng, món cơm, món ăn cay và thịt gà. Củ nghệ cũng kết hợp tốt với rau xào và đậu hũ.

7. Tảo


8

Tảo là một nguồn protein thực vật tuyệt vời, phong phú vitamin B12, vitamin A, sắt và chất diệp lục để điều trị mụn trứng cá, làm giảm viêm, ngăn ngừa và điều trị táo bón, chữa bệnh đường tiêu hóa, thanh lọc máu và gặt đi độc tố. Một muỗng cà phê bột tảo chứa 70% nhu cầu sắt, 88% nhu cầu vitamin A, 81% nhu cầu vitamin B12 hàng ngày của bạn và 4 gram protein. Các nghiên cứu đã xác nhận tảo có thể giúp ngăn ngừa tình trạng viêm trong cơ thể. Tảo giúp đầu óc minh mẫn và làm dịu cơ thể.

8. Maca


8

Maca là 1 trong những thực phẩm rất tốt nhất cho hệ thống nội tiết, hormon và tuyến thượng thận. Maca có chất caramel ngọt ngào. Maca có chứa các axit amin, vitamin C, B1, E, B2, và khoáng chất, bao gồm phốt pho, canxi, sắt, kẽm và magiê. Macca là nguồn đem tới kali phong phú giúp kiểm soát huyết áp và cân bằng lượng nước trong cơ thể.

Mai Hương

Theo Anna Lifestyle

6 loại bệnh thường gặp lúc chuyển mùa hè - thu6 loại bệnh thường gặp khi chuyển mùa hè - thuTrả giá đắt khi chăm sóc trẻ sơ sinh sai cáchTrả mức giá đắt khi chăm sóc trẻ sơ sinh sai cách11 lý do nên ăn nấm thường xuyên11 lý do nên ăn nấm thường xuyên

Những người bị viêm đại tràng mạn, ngoài việc dùng thuốc thì việc đánh tráo chế độ ăn uống, tình trạng bệnh sẽ cải thiện rất nhiều. Việc thay đổi chính sách dinh dưỡng tùy theo giai đoạn của bệnh góp phần làm giảm sự kích thích niêm mạc của đại tràng, giúp cho đại tràng có dịp được nghỉ ngơi nhằm nâng cao khả năng hồi phục đại tràng.

Viêm đại tràng là 1 bệnh tiêu hóa thường gặp. Bệnh khởi phát từ 1 đợt viêm đường tiêu hóa cấp tính do nhiễm khuẩn từ các vi khuẩn hay các ký sinh vật qua ăn uống nhưng không được điều trị triệt để dẫn tới hiện tượng nhờn thuốc, kháng thuốc. Sau nhiều lần tái phát, bệnh chuyển sang viêm đại tràng mạn tính có từng đợt tiến triển. Ngoài ra, viêm đại tràng còn có thể do yếu tố tâm lý thần kinh như xúc động tâm lý, lo lắng, stress… làm ảnh hưởng đến sự điều tiết của hệ thống thần kinh thực vật, gây tăng tiết các chất axít làm loét ruột. Bệnh gặp nhiều ở lứa tuổi trung và cao tuổi.

Do tác dụng của yếu tố bệnh không giống gây viêm nhiễm niêm mạc, tổn thương thần kinh, rối loạn hệ vi khuẩn ruột làm thay đổi vào số lượng chung của từng loại vi khuẩn gây rối loạn quá trình lên men và thối rữa, dẫn đến sự mẫn cảm của cơ thể với hệ vi khuẩn (tăng số lượng kháng thể nội sinh đối với kháng nguyên của ruột).

Chế độ ăn cho người viêm đại tràng mạn tính

Tất cả những yếu tố trên dẫn đến rối loạn chức năng vận động, tiêu hóa, bài tiết và hấp thu của ruột.

Bệnh viêm đại tràng mạn tính có biểu hiện: Rối loạn tiêu hóa, chướng bụng, đau bụng, đầy hơi, phân rối loạn (khi lỏng, khi nát, lúc táo), không thoả thích sau lúc đại nhân tiện và có cảm giác mót đi nữa…

Nguyên tắc xây dựng chính sách ăn trong bệnh viêm đại tràng mạn

Đủ thành phần các chất dinh dưỡng:

Chất đạm (protein): 1g/kg/ngày; nên sử dụng các loại thực phẩm như: Thịt nạc, cá nạc, sữa chua, sữa đậu tương…

Năng lượng: 30 – 35 Kcal/kg/ ngày tùy theo từng bệnh nhân.

Chất béo: Ăn hạn chế không quá 15g/ngày.

Đủ nước, muối khoáng và các vitamin.

Các loại thực phẩm nên ăn

Gạo, khoai tây, cà rốt.

Thịt nạc, cá, sữa đậu nành, sữa không có lactose, sữa chua.

Khi ăn các thức ăn tanh như tôm, cua, cá, trứng nên ăn ít một và ăn ngay sau khi chế biến.

Các loại rau xanh nhiều lá: Rau ngót, rau muống, rau cải… nên nhặt phần rau non để ăn.

Các rau họ cải: Bắp cải, củ cải.

Các loại quả chín: Hồng xiêm, chuối tây, xoài ngọt.

Khi bị táo bón: giảm chất béo, nâng cao chất xơ (đặc biệt là dưới dạng hòa tan như pectin, inulin…).

Khi bị tiêu chảy: tránh hẳn chất xơ dạng không tan như cellulose để thành ruột khỏi bị cọ xát.

Chế độ ăn cho người viêm đại tràng mạn tính

Các loại thực phẩm không nên ăn, uống

Trứng, sữa có chứa đường lactoza, nem rán, thịt mỡ, đậu đen, hành sống, dưa cà muối, rượu bia, cà phê, nước ngọt có ga vì các loại thực phẩm này gây đầy hơi, chướng bụng.

Không nên ăn các thực phẩm có nhiều lactose như sữa bò, nhiều đường như mật ong, nhiều sorbitol (có trong một số bánh kẹo ngọt) nhằm chống tiêu chảy vì bệnh nhân có biểu hiện kém hấp thu các loại đường này bởi thế ăn sẽ gây chướng bụng, đầy hơi và tiêu chảy.

Tránh dùng những thức ăn cứng như: Rau sống, ngô hạt, măng… ảnh hưởng xấu đến vết loét. Khi chế biến thức ăn nên hấp hoặc luộc, hạn chế xào rán và các món sốt.

Không nên ăn thức ăn chế biến sẵn.

Không uống rượu bia, cà phê, hút thuốc lá.

*Giá trị dinh dưỡng của thực đơn (bảng trên).

Năng lượng: 1600 – 1700 Kcalo. Chất đạm: 60 – 70g (15 – 16% năng lượng của khẩu phần). Chất béo: 17- 18g (10 – 11% năng lượng của khẩu phần).

Chất bột đường: 300 – 320g (73 – 75% năng lượng của khẩu phần).

ThS. BS. Lê Thị Hải

Bạn hay thường hỏi những loại thực phẩm nào rất tốt cho sức khỏe, hay nên ăn những loại nào để chống nhiều trùng bảo vệ cơ thể. Dưới đây là những thực phẩmcó công dụng như vậy.

1. Cây rau sam

Đây là loại rau mọc hoang, chẳng phải đắt và rất thông dụng tại nước ta, nó không chỉ làm thực phẩm mà còn là 1 dược thảo quý. Rau sam phát triển mạnh về mùa hè và sống tại lớp đất bề mặt có cỏ mọc.

Theo Đông Y, rau sam có vị chua, hơi đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc. Rau sam là loại cây có rất nhiều chất dinh dưỡng. Các nhà Dược học phát hiện trong rau sam giàu chất chống viêm- axit béo Omega 3. Hai hợp chất chống oxy hóa mạnh mẽ là melatonin và glutathione phần nhiều trong cây sam. Ngoài ra, lá rau sam còn nhiều tác dụng như nâng cao cường hệ miễn dịch, ngăn ngừa và điều trị bệnh tiểu đường, rối loạn hệ thần kinh,... Lưu ý cho bạn tuyệt đối không dùng rau sam cho phụ nữ có thai, người bệnh tiêu chảy hay những người có tiền sử về sạn thận.

2. Su hào

Không phải ai cũng biết su hào có nhiều hợp chất chống viêm như súp lơ xanh hay bắp cải. Theo nhiều chuyên gia, ăn su hào vào mùa đông sẽ giúp hệ miễn dịch của bạn khỏe mạnh, ngăn ngừa các loại bệnh mùa đông như cảm cúm, ho, đau họng,.. Một bát su hào sống chứa phần lớn vitamin C, nhiều gấp 1/4 lần so với nhu cầu của cơ thể cần mỗi ngày. Hơn nữa, su hào chưa nhiều chất xơ, giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh, và nâng cao cường chức năng của hệ thần kinh là nhờ có chất Kali trong nó.

Bạn hãy thường xuyên thêm su hào vào khẩu phần ăn của gia đình và trảo đổi nhiều cách chế biến khác nhau.

3. Quả Marionberries

Giống quả Marionberries là giống cây lai có không ít tại Châu u và Mỹ, thuộc giống cây mâm xôi. Mâm xôi đen khá nổi danh nhờ chứa nhiều chất dinh dưỡng cao như sinh tố C, sinh tố K, acid folic( 1 dạng sinh tố B). Loại cây này cũng được cho về danh sách những trái cây có không ít chất chống oxy hóa, đặc biệt hai chất phytochemicals chống ung thư và anthocyanis chống viêm. Quả mâm xôi đỏ, hay còn gọi phúc bồn tử có hợp chất dinh dưỡng và công dụng không hề kém với mâm xôi đen.

4. Nấm hương

Nấm hương khá là thân quen với các bà nội trợ. Không chỉ giúp món ăn thêm phong phú, ngon miệng mà nó còn là loại thuốc bổ cho sức khỏe. Nấm hương còn được các nhà nghiên cứu vào Đông dược gọi với cái tên “ hoàng hậu thực vật”.

Trong nấm hương chứa nhiều đạm, nhất là nhiều khoáng chất, các vitamin, các acid amin cần yếu cho cơ thể. Hợp chất Beta-glucan có trong nấm hương có tác dụng kháng viêm, nâng cao cường hệ thống miễn dịch. Các nhà khoa học đã chiết xuất Lentinam và Lentinula Edodes mycelium( LEM) từ nấm hương để nâng cao hiệu quả hóa trị cho các bệnh nhân ung thư, và kìm hãm sự phát triển của các tế bào ung thư.

Để bảo đảm được các chất dinh dưỡng, bạn không nên ngâm nấm hương trong nước mà chỉ rửa sạch dưới vòi nước. Trong lúc nấu, cũng tuyệt đối không chế biến nấm hương quá lâu.

Minh Anh (Theo Mindbodygreen)

Gan là một cơ quan thiết yếu chủ chốt cho việc chuyển hóa mọi chất dinh dưỡng. Khi bệnh về gan đã được xác định, tùy giai đoạn mà có chính sách ăn phù hợp nhằm phục hồi phần nào chức năng gan và ngăn ngừa những tổn thương nặng thêm.

Nguyên tắc của chính sách ăn

Phải giảm bớt mỡ trong chính sách ăn, chính sách ăn phải có không ít glucid (đường) để gan tạo được nhiều glycogen. Nhiều tác kém chất lượng đã chứng minh rằng, chính sách ăn nhiều glucid còn làm chậm lại sự xâm nhập lipid (mỡ) vào gan; cần dùng chế độ ăn nhiều chất đạm; cần phải bổ sung thêm nhiều vitamin tan trong dầu như A, D, E, K và vitamin nhóm B.

Sữa là thực phẩm rất tốt cho người viêm gan cấp giai đoạn đầu khi đang sốt.

Chế độ ăn trong viêm gan cấp

Khi bị viêm gan cấp, hàng loạt các rối loạn vào chuyển hóa sẽ xảy ra do tế bào gan bị hoại tử, biểu hiện là nâng cao men gan, cốt yếu là ALT (SGPT). Tuy nhiên, nếu điều trị kịp thời và chính xác thì tế bào gan có thể được tái tạo, chức năng gan có thể hồi phục hoàn toàn. Trong điều trị viêm gan cấp thì cốt yếu là chế độ nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý.

Thực đơn chính sách ăn lỏng cho người bệnh viêm gan cấp giai đoạn đầu:

Trong thời gian đầu lúc đang sốt: sử dụng nước đường, nước luộc rau. Khi sốt đã đỡ, đái nhiều thì sử dụng chính sách sữa + bột. Sữa là thức ăn rất tốt để nương nhẹ tiêu hóa, sữa tách bơ càng tốt. Sữa sử dụng lẫn với đường, mật, bột (cháo).

6h: sữa bò tươi 300ml + đường 10g.

9h: nước cam (cam 1 quả 250g, đường 20g).

11h: nước cháo đường 300ml (gạo 30g, đường 30g).

14h: nước cam (cam một quả 250g, đường 20g).

17h: nước cháo 300ml (gạo 30g, đường 30g).

20h: sữa bò tươi 300ml + đường 10g.

Tổng hợp thực phẩm: gạo 60g, cam 500g, sữa bò tươi 600ml, đường kính 120g.

Thành phần dinh dưỡng: năng lượng 1.236Kcal; protid 28g; lipid 21g; glucid 234g.

Nếu ăn không đủ theo đường tiêu hóa có thể truyền thêm glucose để thêm năng lượng.

Ảnh minh họa

Thực đơn bổ sung cho giai đoạn tiếp theo:

Khi thời gian nôn ọe đã qua, dùng chính sách sữa + bột + rau củ, nghĩa là cùng với sữa cho ăn thêm cháo, phở, quả chín (chuối), rau tươi nấu chín (trừ cải, đậu đỗ).

Năng lượng: 30Kcal/kg cân nặng hiện tại/ngày.

Protid: 0,8 - 1g/kg cân nặng hiện tại/ngày. Tỷ lệ protid động vật trên tổng số trên 50%.

Lipid: 10 - 15% tổng năng lượng. Acid béo không no 1 nối đôi chiếm 1/3, nhiều nối đôi chiếm 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 trong tổng số lipid.

Đủ vitamin, chất khoáng và nước. Không dùng thực phẩm lạ, dễ gây dị ứng. Số bữa ăn 4 - 6 bữa/ngày.

Giai đoạn hồi sức cần Quan tâm nâng cao protid (chất đạm), ngoài sữa cần dùng thêm thịt, cá, trứng. Protid: nâng cao lên 1 - 1,5g/kg thể trọng. Có thể chọn một trong 2 thực đơn sau:

Thực đơn 1:

Bánh mì 70g, gạo 300g, rau 400g, dầu 10g, thịt nạc 80g, đậu phụ 50g, chuối 50g; năng lượng: 1.572Kcal; protid 57g; lipid 23g; glucid 285g; nước 554ml.

Sáng: bánh mì + thịt nạc.

Trưa: cơm 150g gạo, đậu phụ kho thịt nạc (đậu phụ 70g, thịt 30g); canh rau (rau 200g).

Chiều: cơm gạo 150g, canh rau (rau 200g), thịt xíu 50g, chuối 1 quả.

Chú ý: Nấu nhạt nếu như bệnh nhân bị phù.

Thực đơn 2:

Thịt thăn 100g; trứng gà 40g; sữa tươi 200ml; dầu 8g; gạo 300g; rau cải 100g; khoai 200g; đường 25g; năng lượng 1.723Kcal; protid 59g; lipid 29g; glucid 307g; nước 566ml.

Sáng: sữa tươi 200ml + đường 25g; trứng gà 1 quả.

Trưa: cơm gạo 150g + thịt viên hấp 50g + canh rau nấu thịt (thịt 10g, rau 100g).

Chiều: cơm + khoai tây hầm thịt (khoai 200g + thịt 40g, dầu 8g).

Chú ý: Nấu ít muối ví dụ bệnh nhân không phù. Không nấu muối nếu như bệnh nhân phù (ăn nhạt).

PGS.TS. Trần Minh Đạo